Vừa qua tôi có trả lời phỏng vấn và tham gia Bàn tròn Thứ năm ngày 7/9 của BBC Việt ngữ về Thông tư 19 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, liên quan tới việc sử dụng đồng nhân dân tệ (NDT) ở bảy tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam.

Tôi thấy nhiều người có thể chưa rõ một số khái niệm kinh tế (mà kinh tế học là một lĩnh vực phức tạp), do đó có thể gây hiểu lầm và những tranh cãi không đáng có. Trong bài viết này, tôi muốn làm rõ hơn một số khái niệm về kinh tế, hy vọng có thể giúp mọi người hiểu rõ hơn về khía cạnh kinh tế của vấn đề.

Lưu ý là ở đây tôi không nói tới các ý nghĩa chính trị của Thông tư 19 hay chính sách giữa hai nước vì đã có các chuyên gia khác phân tích khá rõ ràng và cảnh báo các nguy cơ.

Trước hết, Thông tư này đề cập việc sủ dụng đồng NDT (đồng Nguyên), vậy NDT có phải là đồng tiền thanh toán quốc tế không ?

Câu trả lời là có. Quỹ IMF đã đưa nhân dân tệ vào giỏ các đồng tiền dự trữ quốc tế từ năm 2016 bên cạnh đô la Mỹ, euro, bảng Anh và yên Nhật. Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương trên thế giới (như các Ngân hàng Trung ương châu Âu, Pháp, Đức, Malaysia, Philippines, Thái Lan, v.v.) cũng đã bắt đầu cơ cấu một phần dự trữ ngoại hối của mình bằng NDT. Dù con số còn rất khiêm tốn so với USD hay euro, ta có thể dễ dàng tìm thấy các con số chính thức về dự trữ ngoại hối bằng NDT của các nước trên mạng và trong các báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế.

Các đồng tiền thường được dùng trong thanh toán quốc tế là USD, EURO, bảng Anh, yên Nhật, đô la Canada, NDT, franc Thuỵ Sỹ, v.v.

Dự trữ ngoại hối là gì ?

Đây là tổng số tiền theo ngoại tệ (có thể là đô la Mỹ hay theo các ngoại tệ khác) mà một nước đang có. Nó được dùng để kiểm soát tỷ xuất hối đoái giữa đồng nội tệ và các ngoại tệ. Nó được dùng trong thanh toán quốc tế (các hoạt động nhập khẩu và trả nợ nước ngoài theo ngoại tệ). Ví dụ như Việt Nam nhập các máy bay Boeing theo đô la Mỹ thì phải dùng số tiền theo ngoại tệ này để trả cho Boeing.

People queue at a bureau de change in GeneveBản quyền hình ảnhFABRICE COFFRINI/GETTY IMAGES
Image captionNgười dân xếp hàng mua Euro tại một quầy đổi tiền ở Geneve, Thụy Sỹ.

Có hay không việc sử dụng một tiền của nước khác trong lãnh thổ của một nước ?

Việc sử dụng một đồng tiền của nước ngoài trên một số địa phận (ở đây tôi nhấn mạnh là trên một số địa phận) lãnh thổ của một quốc gia đã có trên thực tế.

Ví dụ như Thụy Sỹ (đồng tiền quốc gia là Franc Thụy Sỹ) cho phép thanh toán bằng đồng euro tai một số điểm dừng chân như là dọc theo các đường cao tốc hoặc các điểm du lịch. Các nước Bắc Phi cũng chấp nhận đồng euro (dĩ nhiên là cũng tại một số địa điểm).

Tại Việt Nam trước đây và ngay cả hiện tại, ta có thể dùng đô la ở rất nhiều nơi. Việc xác định các địa phận được sử dụng đồng ngoại tệ tùy thuộc vào lợi ích kinh tế của nước sở tại.

Tuy nhiên việc sử dụng ngoại tệ một cách rộng rãi sẽ gây vấn đề mất chủ quyền tiền tệ, mà người ta hay gọi là đô la hóa hay euro hóa (như trường hợp của Việt Nam trước đây đối với đô la Mỹ).

Vì thế lo ngại của người dân Việt Nam về việc NDT hóa nền kinh tế Việt Nam là xác đáng. Tuy nhiên, để vấn đề này xảy ra thì phải đánh giá xem Thông tư 19 này có ảnh hưởng tới đâu, nó có ảnh hưởng lên các tỉnh các của Việt Nam hay không?

Việc cho phép sử dụng NDT ở bảy tỉnh biên giới của Việt Nam sẽ giúp phát triển buôn bán giữa hai nước. Vấn đề này phụ thuộc vào tính thực thi và kiểm soát luật pháp ở Việt Nam.

Để giảm bớt khả năng lây lan của NDT sang các khu vực khác, tôi nghĩ là Việt Nam nên giới hạn các giao dịch buôn bán qua biên giới bằng NDT ở vùng biên giới (chứ không phải tất cả bảy tỉnh) và các cửa khẩu. Việc giới hạn này chỉ khả thi với giao dịch bằng tiền mặt, khó có thể áp dụng cho giao dịch qua ngân hàng (với lượng tiền thường lớn hơn giao dịch bằng tiền mặt).

USD and CNY notesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image caption’Nếu VN và TQ thanh toán bằng USD thì phải tính đến tỷ suất hối đoái giữa NDT và USD’.

Bản chất của giao dịch buôn bán qua biên giới bằng tiền mặt hay qua ngân hàng bằng NDT có lợi hay hại đối với Việt Nam?

Trước hết, tôi xin nhắc lại là ở đây tôi chỉ nói về thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, không nói đến buôn bán trong nước (việc này chắc chắn là bằng VND). Hiện nay, thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đang chiếm phần quan trọng nhất trong cán cân thương mại của Việt Nam.

Nếu cả hai nước đều dùng USD để thanh toán thì trong nhập khẩu Việt Nam phải đổi VND sang USD để trả cho phía Trung Quốc. Khi Việt Nam xuất khẩu thì Trung Quốc phải dùng NDT đổi sang USD để trả cho phía Việt Nam. Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam chịu rủi ro liên quan tới tỷ suất giữa VND và USD, chẳng hạn do phải đổi USD thu được sang VND để trả tiền công lao động, đầu tư vốn hay mua các nguyên liệu sản xuất trong nước, v.v.

Ngoài ra, khi thanh toán bằng USD thì phải tính đến tỷ suất hối đoái giữa NDT và USD. Vì sao? Vì khi Trung Quốc phá giá NDT đối với USD (nhất là trong bối cảnh có chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc), các sản phẩm của Trung Quốc được nhập vào Việt Nam với giá rẻ hơn (vì ta thanh toán cho phía Trung Quốc bằng USD), trong khi các sản phẩm của Việt Nam xuất sang Trung Quốc sẽ đắt hơn trước (cũng vì Trung Quốc phải trả cho phía Việt Nam bằng USD).

Đồng NDT còn ít sử dụng trong thanh toán quốc tế so với USD, nhưng nếu áp dụng được một phần cho thanh toán giữa Việt Nam và Trung Quốc, sẽ góp phần giảm chi phí cho các doanh nghiệp Việt Nam khi phải chuyển đổi tiền giữa VND và USD (vì tránh được rủi ro do tỷ suất và phá giá), và qua đó giúp gia tăng thông thương giữa hai nước.

Chinese Yuan notesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThanh toán bằng đồng DNT sẽ giúp giảm tác động tiêu cực lên nhập siêu, theo TS Nguyễn Văn Phú.

Một tác động quan trọng nữa là việc này sẽ giúp giảm tác động tiêu cực lên nhập siêu (mà nhập siêu chính là chảy máu ngoại tệ) của Việt Nam đối với Trung Quốc. Con số thâm hụt thương mại của Việt Nam đối với Trung Quốc rất lớn, năm 2016 là hơn 28 tỷ USD còn năm 2017 là hơn 22 tỷ USD.

Trong trường hợp thanh toán bằng NDT, dù NDT có bị phá giá so với USD thì con số thâm hụt này sẽ không thay đổi.

Tuy nhiên, trong trường hợp thâm hụt thương mại được thanh toán bằng USD thì sự phá giá của NDT sẽ làm tăng nhập khẩu hàng Trung Quốc, giảm xuất khẩu hàng Việt Nam, và như vậy sẽ làm nhập siêu cao hơn nữa. Trong hoàn cảnh có sự phá giá của NDT như hiện nay, tôi nghĩ việc giảm nhập siêu từ Trung Quốc là vấn đề cần giải quyết gấp để giảm sức ép lên các doanh nghiệp trong nước (vì bị cạnh tranh từ hàng Trung Quốc ngày càng rẻ). Mà phía sau các doanh nghiệp này chính là người lao động Việt Nam.

Do đó việc sử dụng NDT trong thanh toán thương mại qua biên giới là một giải pháp tình thế có thể hiểu được. Ở đây, ta nên lưu ý một lần nữa là thanh toán thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, không phải buôn bán với các nước khác trên thế giới (thông thường bằng USD), và càng không phải buôn bán trong nước (bắt buộc phải dùng VND).

*Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, Tiến sỹ kinh tế Nguyễn Văn Phú từ Strassbourg, Pháp.

Theo BBC
Bình Luận