BTV Tiếng Dân

Trung Quốc sẽ là một đối tác trung thành với trật tự quốc tế tự do hay là cường quốc theo chủ nghĩa xét lại? Chúng tôi xin giới thiệu bản dịch bài viết của Stacie E. Goddard, đăng trên báo Washington Post ngày 3/10/2018, phân tích câu hỏi trên.

***

Tuần này, các tàu chiến của Trung Quốc và Mỹ đã chơi trò chơi nguy hiểm “Ai là gà” (game of chicken) ở Biển Đông, càng làm tăng thêm những căng thẳng vốn đã gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc về các vấn đề thương mại và những cáo buộc Trung Quốc đã can thiệp vào bầu cử ở Hoa Kỳ. Mối quan hệ Mỹ – Trung đang rung chuyển, nhưng câu hỏi đặt ra là, những căng thẳng này sẽ diễn ra theo chiều hướng nào?

Đối với các nhà khoa học chính trị, một câu hỏi lớn trong những năm gần đây, liệu Trung Quốc là một đối tác trung thành với “trật tự quốc tế tự do” hay trở thành “cường quốc theo chủ nghĩa xét lại”, lật đổ các thể chế hiện tại nhằm theo đuổi nghị trình toàn cầu riêng của mình. Nhiều học giả tin rằng, tư cách thành viên của Trung Quốc trong các thể chế then chốt về chính trị, kinh tế và an ninh sẽ hạn chế tham vọng của họ.

Những người khác không đồng ý. Đầu năm nay, Chiến lược Quốc phòng Hoa Kỳ đã nêu lên mối lo ngại ngày càng tăng rằng “Trung Quốc và Nga muốn hình thành một thế giới phù hợp với mô hình độc tài của họ”. Đúng vậy, Bắc Kinh đã thách thức các thể chế an ninh được thiết lập ở châu Á – Thái Bình Dương, tranh chấp với những quy tắc lãnh thổ ở Biển Đông,  tự tạo ra những thể chế kinh tế nhằm thay thế [các thể chế hiện tại – ND], chẳng hạn như Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB) và Sáng kiến Vành đai Con đường.

Nghiên cứu của tôi cho thấy, tư cách thành viên của Trung Quốc trong các thể chế hiện tại không có khả năng cản trở tham vọng của Bắc Kinh. Đây là lý do tại sao:

1. Các thể chế quốc tế cung cấp nguồn tài nguyên cho chủ nghĩa xét lại

Hầu hết nghiên cứu hàn lâm nhấn mạnh, cách thức các thể chế giữ các quốc gia đi theo trật tự toàn cầu. Khi các quốc gia tham gia các tổ chức, tư cách thành viên của họ làm tăng cái giá mà họ phải trả nếu thách thức hiện trạng, ràng buộc các quốc gia với những  thể chế này và thậm chí “xã hội hóa” chúng thành các quy tắc tiêu chuẩn toàn cầu.

Tuy nhiên, trong 14 kịch bản tiềm năng kể từ năm 1815 trở đi, chỉ trong ba trường hợp – Nga đầu thế kỷ 19, Nhật Bản và Đức thời chiến tranh lạnh – các chính thể theo chủ nghĩa xét lại chấp nhận trật tự thể chế hiện có. Tư cách thành viên trong Hội Quốc Liên đã không cản được Nhật Bản xâm lược Mãn Châu vào năm 1931, hoặc Đức và Ý lao vào những tham vọng bành trướng.

Tại sao chủ nghĩa xét lại – một nỗ lực của các quốc gia để lật đổ trật tự thể chế đương thời – lại phổ biến? Đầu tiên, việc tham gia vào các thể chế thực sự mang lại cho các quốc gia nguồn lực để thách thức hiện trạng. Ví dụ như các quốc gia tham gia các tổ chức an ninh có thể tăng cường khả năng huy động đồng minh. Các quốc gia tham gia các tổ chức kinh tế bảo đảm được ảnh hưởng đối với các đối tác thương mại. Các quốc gia là thành viên của các thể chế chính trị như Liên Hiệp quốc có thể đạt được tính hợp pháp cho yêu cầu của họ.

Thứ hai, các nhà xét lại tiềm năng duy trì mối quan hệ với các tổ chức nằm ngoài trật tự đang thống trị, điều này có thể tạo thêm những nguồn lực làm suy yếu hiện trạng. Ví dụ như vào giữa thế kỷ 19, Phổ sử dụng các mối quan hệ kinh tế và xã hội của mình bên ngoài Nhóm hoà hợp các cường quốc châu Âu (the Concert of Europe) để thách thức trật tự châu Âu. Liên Xô dựa vào các thể chế nằm ngoài trật tự phương Tây do Hoa Kỳ dẫn đầu để theo đuổi các chiến lược cách mạng.

2. Các thể chế có thể giảm chi phí của các chiến lược tái xét

Nhiều học giả cho rằng chủ nghĩa tái xét cũng đồng nghĩa với bạo lực tốn kém – họ muốn nhắc đến các cuộc chiến bá quyền phát động bởi Pháp thời Napoleon, Đế quốc Nhật Bản và Đức Quốc xã. Từ quan điểm này, thật khó để tưởng tượng Trung Quốc sẽ thách thức hiện trạng. Đơn giản vì chiến tranh là quá tốn kém.

Nhưng những nước thách thức các trật tự hiện tại có thể áp dụng một số chiến lược và thậm chí có thể sử dụng các kênh của các tổ chức hiện có để theo đuổi mục tiêu của họ. Ví dụ, khi nước Nga thế kỷ 19 bành trướng vào Đế chế Ottoman, nước này dựa vào các tổ chức ngoại giao và liên minh của Nhóm hoà hợp các cường quốc châu Âu. Trên thực tế các cuộc tấn công quân sự triệt để vào các trật tự thể chế chỉ là phương thức cuối cùng. Đế quốc Nhật Bản đã chuyển sang dùng quân sự chỉ khi nước này mất nguồn tài nguyên thể chế để thách thức hiện trạng một cách hòa bình.

3. Các thể chế quốc tế tạo ra những cơ hội quan trọng nhất

Điểm cuối cùng là các học giả thường cho rằng chủ nghĩa xét lại được thúc đẩy bởi “các kế hoạch tổng thể”, tham vọng toàn cầu mà sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào ý thức hệ của quốc gia đó, loại chính phủ hoặc những nỗi sợ an ninh. Nếu một nhà nước có mục tiêu cách mạng, nó sẽ cố gắng lật đổ trật tự thể chế, ngay cả khi phải trả giá bằng chiến tranh. Nếu tham vọng của một nhà nước bị hạn chế hơn, nó có thể thúc đẩy những cải cách nhỏ chứ có lẽ không tiến hành những thay đổi thể chế rộng lớn.

Trên thực tế, cơ hội lại có thể là động lực trong nhiều trường hợp. Điều này có nghĩa rằng ngay cả các quốc gia có mục tiêu khiêm tốn sẽ theo đuổi các dự án mang tính cách mạng khi trật tự thể chế ở thời điểm chín muồi cho sự thay đổi.

Đây là một ví dụ. Không có bằng chứng cho thấy Đế quốc Nhật Bản có một kế hoạch mang tính cách mạng khi nó bắt đầu mở rộng sang châu Á-Thái Bình Dương vào đầu thế kỷ 20. Khi các nhà lãnh đạo Nhật Bản yêu sách thuộc địa và sát nhập Hàn Quốc, họ chỉ chớp lấy cơ hội và phản ứng kịp thời với những rạn nứt của trật tự thực dân phương Tây ở châu Á-Thái Bình Dương. Cơ hội đến từ bên trong trật tự thể chế cũng có thể là nguồn động lực dẫn dắt các dự án xét lại.

Trung Quốc và trật tự thể chế

Những khám phá nói trên có ý nghĩa gì đối với Trung Quốc và các thể chế toàn cầu hiện nay? Để bắt đầu trả lời câu hỏi này, tư cách thành viên của Trung Quốc trong các tổ chức như Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã giúp Trung Quốc tăng khả năng yêu cầu cải cách trong các tổ chức này.

Trung Quốc cũng đã phát triển các nguồn lực thể chế riêng của mình, chẳng hạn như kế hoạch AIIB và Vành đai Con đường, những sáng kiến mà tất nhiên sẽ đặt mục tiêu của Bắc Kinh lên hàng đầu và có khả năng làm giảm khả năng tiếp cận của các ngân hàng phát triển đa phương do Tây phương lãnh đạo. Trung Quốc cũng đã đạt được ảnh hưởng ngày càng tăng lên các quốc gia nằm trên Vành đai và Con đường, điều mà có thể mang lại cho Trung Quốc các đối tác mới ở Nam Á, Châu Phi và Trung Đông.

Và có những bằng chứng khác về việc Trung Quốc mở rộng hơn các mục tiêu của mình khi có những cơ hội mới nổi lên. Việc Mỹ tập trung vào chống khủng bố hơn là phát triển ở Nam Á đã tạo cơ hội cho các dự án kinh tế Vành đai và Con đường của Trung Quốc trong khu vực này. Trung Quốc có thể mở rộng tham vọng của mình để phản ứng với những loại cơ hội mới này, đặc biệt nếu Hoa Kỳ tiếp tục rút lui khỏi trật tự toàn cầu.

Tất cả những điều này cho thấy Trung Quốc có thể theo đuổi những thay đổi sâu xa hiện trạng quốc tế trong tương lai không xa. Trớ trêu thay, điều này có thể xảy ra là vì, chứ không phải là mặc dù, Trung Quốc có tư cách thành viên trong các thể chế quốc tế.

Stacie E. Goddard là một giáo sư lãnh vực khoa học chính trị tại trường Cao đẳng Wellesley và là tác giả của cuốn sách“When Right Makes Might: Rising Powers and World Order“ (NXB Cornell, sắp tới, 2018).



Theo Báo TIếng Dân

Bình Luận

Bài Viết Liên Quan